Có những lúc tôi khó chịu với một người rất nhanh.
Một tin nhắn chỉ có chữ “Ừ”.
Một câu trả lời ngắn hơn mọi ngày.
Một người đang nói chuyện bỗng im lặng.
Ai đó đã xem tin nhắn nhưng chưa trả lời.
Một đứa trẻ đi vào phòng rồi đóng cửa.
Chuyện xảy ra đôi khi chỉ có vậy. Nhưng trong đầu tôi, câu chuyện đã đi xa hơn rất nhiều.
“Chắc họ không vui với mình.”
“Có vẻ người ta không tôn trọng mình.”
“Nó đang chống đối.”
“Người này nói vậy là có ý gì đây?”
Điều thú vị là lúc ấy tôi thường không cảm thấy mình đang suy đoán. Tôi cảm thấy mình đang nhìn thấy sự thật.
Và khi đã tin đó là sự thật, cảm xúc đi theo đó rất nhanh. Khó chịu. Tổn thương. Bực. Muốn giải thích. Muốn phản ứng. Đôi khi tôi trả lời một câu hơi lạnh, người kia nhận được sự lạnh đó lại phản ứng theo cách của họ. Một chuyện vốn chưa rõ nghĩa bắt đầu có thêm vài lớp nghĩa mới.
Rồi đến một lúc nào đó, tôi mới nhận ra:
Người khác có thể đã làm một việc khiến tôi khó chịu. Nhưng cũng có rất nhiều lần, giữa việc họ làm và cảm giác của tôi, đã có thêm một đoạn mà trước đây tôi ít nhìn thấy.
Đoạn ấy là phần tôi diễn giải.
Não của chúng ta vốn phải làm công việc “điền vào chỗ trống”
Trong đời sống xã hội, chúng ta gần như không bao giờ có đủ dữ liệu về người khác.
Tôi nghe được câu họ nói, nhưng không trực tiếp nhìn thấy ý định của họ. Tôi thấy nét mặt, nhưng không biết trước đó họ vừa trải qua chuyện gì. Tôi thấy một người im lặng, nhưng sự im lặng ấy có thể liên quan đến tôi, cũng có thể chẳng liên quan gì đến tôi.
Nghiên cứu về nhận thức xã hội cho thấy đây là một đặc điểm rất căn bản của việc sống cùng người khác: suy nghĩ, ý định và trạng thái bên trong của người đối diện phần lớn là những thứ ta không thể quan sát trực tiếp. Con người vì thế liên tục phải suy ra chúng từ những tín hiệu không đầy đủ.
Ở một tầng rộng hơn, khoa học thần kinh về nhận thức cũng cho thấy tri giác không đơn giản giống một chiếc camera ghi nguyên xi thế giới bên ngoài. Những gì ta nhận biết chịu ảnh hưởng của cả thông tin đang đi vào lẫn những kỳ vọng và kinh nghiệm đã có trước đó. Đây là một trong những ý tưởng trung tâm của các mô hình “predictive processing” - xử lý dự đoán - trong khoa học não bộ hiện đại.
Điều này rất hữu ích.
Nếu mỗi lần nhìn thấy một khuôn mặt, nghe một giọng nói hay bước vào một tình huống, bộ não đều phải bắt đầu xử lý mọi thứ từ con số không, có lẽ chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian chỉ để hiểu chuyện gì đang diễn ra.
Kinh nghiệm cũ giúp não dự đoán nhanh.
Nhưng chính khả năng hữu ích ấy cũng tạo nên một điều đáng để quan sát: cùng một tín hiệu bên ngoài, phần nghĩa mà mỗi người thêm vào có thể không hoàn toàn giống nhau.
Một câu “Ừ” vẫn chỉ là một chữ “Ừ”.
Nhưng nếu trước đó tôi đang lo người kia giận mình, chữ ấy có thể nghe rất khác.
Nếu tôi vừa trải qua một cuộc tranh luận, một khoảng im lặng có thể trở nên đáng ngờ hơn bình thường.
Nếu tôi từng nhiều lần gặp một kiểu tình huống nào đó, não có thể dùng kinh nghiệm ấy để đoán điều đang xảy ra lần này.
Điều đó không có nghĩa là mọi cảm nhận của chúng ta đều sai. Cũng không có nghĩa “tất cả chỉ do mình nghĩ ra”.
Có những lúc người khác thực sự thiếu tôn trọng. Có những lời nói thực sự gây tổn thương. Có những hành vi cần được nhìn thẳng và đặt giới hạn.
Nhưng giữa hai cực “người khác làm tôi khó chịu” và “mọi thứ đều do tôi tưởng tượng” còn một khoảng rộng hơn nhiều.
Ở đó, tôi có thể thừa nhận rằng cảm giác của mình là thật, trong khi cách mình giải thích nguyên nhân của cảm giác ấy vẫn có thể cần thêm dữ liệu.
Tôi thấy sự phân biệt này rất có ích.
Khi cảm xúc đã xuất hiện, một chi tiết nhỏ có thể trở nên rất lớn
Có một chuyện khác cũng đáng chú ý.
Não không xử lý mọi tín hiệu với mức ưu tiên như nhau. Những thông tin có ý nghĩa cảm xúc, đặc biệt những tín hiệu liên quan đến nguy cơ hoặc điều đang quan trọng với chúng ta, có khả năng thu hút sự chú ý mạnh hơn và ảnh hưởng đến cách thông tin tiếp theo được xử lý. Các nghiên cứu thần kinh về tương tác giữa cảm xúc và chú ý đã ghi nhận vai trò của nhiều hệ thống não cùng tham gia vào quá trình này, chứ không phải một “nút cảm xúc” duy nhất điều khiển mọi thứ.
Tôi thấy điều này trong đời sống khá rõ.
Có ngày đầu óc nhẹ nhàng, ai đó trả lời ngắn, tôi đọc xong rồi để đó.
Cũng câu ấy, vào một ngày tôi đã căng từ sáng, trong đầu có thể bật lên ngay:
“Ủa, thái độ gì vậy?”
Câu chữ không đổi.
Nhưng người đang đọc câu chữ ấy không còn ở cùng một trạng thái.
Điều này làm tôi cẩn thận hơn với câu “Rõ ràng là…”.
“Rõ ràng là họ coi thường mình.”
“Rõ ràng là nó cố tình.”
“Rõ ràng là người ta không muốn hợp tác.”
Có thể đúng.
Nhưng từ “rõ ràng” đôi khi xuất hiện hơi sớm.
Bởi ý định của người khác là thứ chúng ta thường phải suy ra, chứ không phải thứ hiện nguyên hình trước mắt. Các nghiên cứu về việc con người hiểu hành động của người khác cũng phân biệt khá rõ giữa cái ta quan sát được và phần ý định mà ta suy luận từ hành động ấy.
Tôi bắt đầu để ý một khoảng rất nhỏ
Bây giờ, khi một chuyện làm mình khó chịu, tôi không còn cố bắt mình phải “suy nghĩ tích cực”.
Tôi cũng không nói với mình rằng: “Chắc người ta không có ý gì đâu.”
Vì câu đó, suy cho cùng, vẫn là một cách diễn giải.
Chỉ là đổi từ một diễn giải khó chịu sang một diễn giải dễ chịu hơn.
Điều tôi tập gần đây đơn giản hơn nhiều: chậm lại đủ để nhận ra đâu là chuyện vừa xảy ra, đâu là phần nghĩa mình vừa thêm vào.
“Người ấy chưa trả lời tin nhắn của tôi” là một quan sát.
“Người ấy xem thường tôi” đã là một diễn giải.
“Con vào phòng và đóng cửa” là điều tôi thấy.
“Nó không muốn nói chuyện với mẹ nữa” đã đi xa thêm một đoạn.
“Anh ấy nói: Tùy em” là câu đã được nói.
“Anh ấy chẳng quan tâm” là ý nghĩa tôi gắn vào câu ấy.
Đôi khi diễn giải của tôi đúng.
Đôi khi đúng một phần.
Đôi khi tôi hỏi ra mới thấy câu chuyện hoàn toàn khác.
Và cũng có lúc hỏi xong, tôi nhận ra: à, mình cảm nhận không sai. Người kia thực sự đang không vui.
Nhưng lúc ấy có một khác biệt rất lớn.
Tôi đang phản hồi điều đã được làm rõ, thay vì phản ứng với điều mình vừa đoán.
Có lẽ vì vậy mà tôi bắt đầu thích câu hỏi hơn kết luận.
“Lúc nãy bạn nói vậy, tôi chưa chắc mình hiểu đúng. Ý bạn là…?”
“Con đang muốn ở một mình một lúc hay có chuyện gì con muốn mẹ biết?”
“Anh im lặng vì đang suy nghĩ hay có điều gì trong cuộc nói chuyện làm anh không thoải mái?”
Không phải lúc nào cũng cần hỏi. Không phải chuyện gì cũng phải đem ra phân tích.
Nhưng chỉ riêng việc biết rằng mình chưa chắc đã biết cũng tạo ra một khoảng trống rất khác.
Trong khoảng trống ấy, tôi vẫn có thể cảm thấy khó chịu mà chưa cần biến cảm giác đó thành một bản án về người khác.
Tôi vẫn có thể bảo vệ giới hạn của mình mà không cần đoán động cơ của họ.
Và tôi cũng có thêm cơ hội phát hiện ra những câu chuyện mà chính mình thường mang vào một tình huống.
Có lẽ đây mới là phần khiến tôi tò mò nhất.
Không chỉ là: “Người kia thực sự có ý gì?”
Mà còn là:
Tại sao giữa rất nhiều cách có thể hiểu, đầu tôi lại đi đến cách hiểu này nhanh như vậy?
Không phải để trách mình.
Chỉ để nhìn.
Bởi đôi khi người trước mặt mới nói một câu.
Còn phần còn lại… tôi đã viết gần xong cả kịch bản.
Và nếu nhận ra điều đó sớm hơn một chút, có lẽ tôi sẽ có thêm một lựa chọn rất nhỏ: chưa vội sống tiếp trong kịch bản ấy.
Tôi có thể hỏi.
Hoặc đơn giản là đợi thêm một chút.
Để xem điều gì thực sự đang xảy ra.